Đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch
Đăng ngày: 01/01/2026 - Lượt xem: 29
Chủ động nhận diện, kiên quyết đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc chính sách phòng thủ biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta

Trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tình hình khu vực và quốc tế, đặc biệt là trên Biển Đông, tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố mất ổn định. Các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị gia tăng hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách quốc phòng, nhất là chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam nhằm gây hoang mang dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta. Việc chủ động nhận diện, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái này là nhiệm vụ quan trọng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Âm mưu và các luận điệu xuyên tạc về chính sách phòng thủ biển đảo của Việt Nam

Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị thường sử dụng nhiều luận điệu chống phá tinh vi nhằm xuyên tạc chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam. Trước hết, các đối tượng này lập nên các trang mạng xã hội, các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài để đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, phóng sự bóp méo, bác bỏ các tư liệu lịch sử, cơ sở pháp lý và thực tiễn quản lý biển đảo liên tục, hòa bình của Nhà nước Việt Nam để phủ nhận chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên cơ sở đó, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục xuyên tạc đường lối kiên trì giải quyết tranh chấp biển đảo bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế của Việt Nam, quy kết đây là biểu hiện của sự “yếu đuối”, “nhượng bộ chủ quyền” “đánh đổi chủ quyền để đổi lấy lợi ích kinh tế hoặc đối ngoại” nhằm gieo rắc hoài nghi trong nhân dân. Song song với đó, lợi dụng “lòng yêu nước” các đối tượng thù địch thổi phồng mâu thuẫn, kích động tư tưởng cực đoan dân tộc, cổ súy đối đầu, lôi kéo biểu tình trái pháp luật, gây mất ổn định chính trị - xã hội và phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch và phản động còn cố tình vu cáo, bôi nhọ vai trò lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta bằng những luận điệu vô căn cứ như “che giấu thông tin”, “đặt lợi ích nhóm lên trên chủ quyền”  nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với hệ thống chính trị. Ngoài ra, các đối tượng này thường xuyên đánh tráo khái niệm, cố tình diễn giải sai Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982, xuyên tạc chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam, cho rằng đó là biểu hiện của sự “lệ thuộc” hoặc “bị chi phối bởi nước lớn”, qua đó phục vụ mưu đồ chống phá lâu dài.

Thực tế cho thấy, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị luôn sử dụng một cách có chọn lọc các sự kiện lịch sử để tung ra các luận điệu chống phá, xuyên tạc chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam theo một kịch bản lặp lại. Từ sự kiện Gạc Ma năm 1988, các thế lực thù địch, phản động cố tình bóp méo lịch sử, xuyên tạc bản chất chính nghĩa sự hy sinh anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Hải quân Việt Nam, qua đó quy kết sai trái đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ của Đảng và Nhà nước. Đến giai đoạn 2011- 2012, khi tàu khảo sát địa chấn Viking II của Việt Nam đang hoạt động hoàn toàn hợp pháp trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 nhưng bị tàu nước ngoài xâm phạm, cắt cáp thăm dò, các đối tượng chống phá lại vu cáo Việt Nam “khiêu khích”, “làm phức tạp tình hình”, phủ nhận nỗ lực đấu tranh kiềm chế, đúng mực bằng biện pháp ngoại giao và pháp lý. Tiếp đó, năm 2014, trong vụ việc giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm nghiêm trọng vùng biển Việt Nam, nhiều trang mạng phản động tiếp tục bóp méo thông tin, rêu rao luận điệu “Việt Nam không đủ năng lực bảo vệ chủ quyền” “Chính phủ Việt Nam bán biển Đông”, trong khi trên thực tế Việt Nam đã kiên quyết đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế và được dư luận quốc tế đồng tình. Tương tự, trong các năm 2019-2020, lợi dụng diễn biến phức tạp tại Bãi Tư Chính, các đối tượng chống phá tung ra luận điệu cho rằng Việt Nam “im lặng”, “nhượng bộ”, thậm chí bịa đặt ra “danh sách ủy viên Bộ Chính trị chia đôi bãi Tư Chính cho Trung Quốc để đổi lấy vị trí nhân sự trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, bất chấp việc Việt Nam đã chủ động, nhất quán đấu tranh trên nhiều kênh chính trị, ngoại giao, quốc phòng và tại các diễn đàn quốc tế. Đến giai đoạn hiện nay, mỗi khi lực lượng chức năng Việt Nam tăng cường thực thi pháp luật trên biển, bảo vệ ngư dân, phát triển kinh tế biển hợp pháp và tham gia tích cực các cơ chế hợp tác khu vực, các luận điệu xuyên tạc lại tái diễn với hình thức tinh vi hơn, vu cáo Việt Nam “quân sự hóa Biển Đông”, đánh tráo khái niệm, suy diễn chính sách quốc phòng “bốn không” thành sự “lệ thuộc” hoặc “thiếu bản lĩnh”.

Có thể thấy rằng các luận điệu xuyên tạc chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam được triển khai có chủ đích, có hệ thống và phục vụ những mục tiêu chính trị cụ thể. Trước hết, các luận điệu này nhằm tạo nhiễu loạn thông tin, làm sai lệch nhận thức xã hội về tình hình Biển Đông và đường lối quốc phòng của Việt Nam, từ đó phá vỡ sự thống nhất trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thông qua việc cắt xén sự kiện, đánh tráo khái niệm giữa phòng thủ và quân sự hóa, giữa kiên trì hòa bình và nhân nhượng, các đối tượng chống phá tìm cách làm suy giảm niềm tin vào năng lực lãnh đạo, quản lý và bảo vệ chủ quyền của Đảng và Nhà nước. Sâu xa hơn, mục tiêu của những luận điệu này là tác động tiêu cực đến “thế trận lòng dân”, làm suy yếu sự đồng thuận xã hội là yếu tố nền tảng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đồng thời, việc liên tục thổi phồng, xuyên tạc tình hình còn nhằm tạo cớ chính trị để gây sức ép từ bên ngoài, can thiệp vào công việc nội bộ, qua đó phục vụ mưu đồ kiềm chế, làm suy giảm vai trò, vị thế và không gian chiến lược của Việt Nam trên Biển Đông.

Bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, bảo vệ tính chính nghĩa của chính sách phòng thủ biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta

Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam là đúng đắn, chính nghĩa và minh bạch, được xây dựng trên cơ sở kiên định bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, đồng thời tôn trọng luật pháp quốc tế và lợi ích chính đáng của các quốc gia liên quan. Về pháp lý, chính sách này được thể hiện nhất quán trong Hiến pháp năm 2013, các văn kiện của Đảng, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam và việc Việt Nam nghiêm túc thực thi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Về thực tiễn, mọi hoạt động củng cố năng lực phòng thủ và thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam đều diễn ra trong phạm vi chủ quyền và quyền chủ quyền hợp pháp, mang tính phòng thủ, tự vệ, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc. Đồng thời, Việt Nam kiên trì giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thông qua đàm phán, đối thoại, các cơ chế khu vực và quốc tế, thể hiện rõ lập trường nhất quán, minh bạch và có trách nhiệm. Chính sách đó không chỉ bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, mà còn đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định và trật tự pháp lý trên Biển Đông.

Trên bình diện khu vực và quốc tế, chính sách phòng thủ biển, đảo hòa bình, tự vệ của Việt Nam nhận được sự ủng hộ và đánh giá tích cực từ nhiều nhóm đối tác quan trọng. Trong khuôn khổ ASEAN, Việt Nam được ghi nhận là quốc gia thành viên tích cực, có trách nhiệm, luôn thúc đẩy duy trì đoàn kết, vai trò trung tâm của ASEAN, kiên trì thực hiện Tuyên bố DOC và đóng góp thực chất vào tiến trình xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử COC hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế. Đối với Liên Hợp Quốc và các diễn đàn đa phương, Việt Nam nhất quán khẳng định Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 là khuôn khổ pháp lý toàn diện điều chỉnh các vấn đề về biển, được nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế đồng tình, coi đây là nền tảng bảo đảm trật tự pháp lý, hòa bình và ổn định trên các vùng biển. Trong quan hệ với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, Việt Nam được đánh giá cao về lập trường độc lập, tự chủ, minh bạch trong chính sách quốc phòng, đặc biệt là việc kiên trì chính sách “bốn không”, không liên minh quân sự, không chọn bên, góp phần xây dựng lòng tin chiến lược và giảm nguy cơ xung đột. Sự đồng thuận và ủng hộ này cho thấy chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam không chỉ bảo vệ hiệu quả lợi ích quốc gia - dân tộc mà còn phù hợp với lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế trong việc duy trì hòa bình, ổn định và thượng tôn pháp luật trên Biển Đông.

Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam là đúng đắn, chính nghĩa và minh bạch (Nguồn: Internet)

Tiếp tục cảnh giác và nâng cao hiệu quả đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái về chính sách phòng thủ biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta

Trong thời gian tới, cùng với những diễn biến phức tạp trên Biển Đông và quá trình Việt Nam tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng, các luận điệu xuyên tạc, chống phá chính sách phòng thủ biển, đảo sẽ tiếp tục gia tăng cả về tần suất lẫn mức độ tinh vi. Các thế lực thù địch sẽ tăng cường lợi dụng không gian mạng, các sự kiện nhạy cảm, các vấn đề pháp lý quốc tế và tâm lý xã hội để đánh tráo khái niệm pháp lý, xuyên tạc Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và chính sách quốc phòng “bốn không” của Đảng và Nhà nước ta, kích động dư luận, gieo rắc hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thậm chí lồng ghép vấn đề biển, đảo với các nội dung về dân chủ, nhân quyền, kinh tế, môi trường nhằm tạo hiệu ứng cộng hưởng, làm phức tạp tình hình tư tưởng và gây khó khăn cho công tác định hướng thông tin.

Trước tình hình trên, để đấu tranh, phản bác có hiệu quả trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị về chính sách phòng thủ biển đảo của Đảng và Nhà nước ta, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường giáo dục, thống nhất nhận thức chính trị - pháp lý về chủ quyền biển đảo cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục làm rõ cơ sở lịch sử, pháp lý và thực tiễn khẳng định chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; bản chất hòa bình, tự vệ của chính sách phòng thủ biển, đảo; vai trò của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 và Hiến chương Liên Hợp Quốc. Việc thống nhất nhận thức đúng sẽ là nền tảng quan trọng để cán bộ, đảng viên và nhân dân chủ động nhận diện, miễn dịch trước các luận điệu xuyên tạc.

Thứ hai, chủ động đấu tranh phản bác các thông tin xấu, độc xuyên tạc chính sách phòng thủ biển đảo của Việt Nam trên không gian mạng và các diễn đàn dư luận quốc tế.

Cần tổ chức lực lượng, phương thức đấu tranh phản bác kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm đối với các thông tin sai trái, thù địch về công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; sử dụng lập luận khoa học, dẫn chứng pháp lý và thực tiễn xác thực để vạch rõ thủ đoạn bóp méo, đánh tráo khái niệm của các đối tượng chống phá. Đấu tranh phải đi đôi với định hướng dư luận, không để các luận điệu sai trái chiếm lĩnh không gian thông tin; đồng thời phải xử lý nghiêm minh các đối tượng đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung xấu, độc, không đúng sự thật về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước ta về bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Thứ ba, phát huy hiệu quả các biện pháp pháp lý, ngoại giao và đối ngoại quốc phòng.

Tiếp tục kiên trì giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982; đồng thời đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng, ngoại giao đa phương để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta.

Thứ tư, tăng cường minh bạch thông tin và thông tin đối ngoại về chính sách biển, đảo của Việt Nam.

Tăng cường công khai, minh bạch hóa quan điểm, chính sách quốc phòng thông qua các văn kiện chính thức, Sách trắng Quốc phòng, các kênh truyền thông chính thống và thông tin đối ngoại góp phần thu hẹp “khoảng trống thông tin”, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, suy diễn, dẫn dắt dư luận theo hướng sai lệch.

Thứ năm, củng cố “thế trận lòng dân” gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Cần gắn công tác đấu tranh tư tưởng với chăm lo đời sống nhân dân, nhất là ngư dân và lực lượng làm nhiệm vụ trên biển; phát huy tinh thần yêu nước đúng đắn, trách nhiệm công dân trong bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Thứ sáu, nâng cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải là lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ động lên tiếng đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch bằng thái độ kiên định, lập luận chuẩn xác, hành xử đúng mực, góp phần lan tỏa nhận thức đúng đắn về chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam.

Có thể khẳng định rằng, chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam là kết quả của tư duy chiến lược đúng đắn, sự kết hợp hài hòa giữa bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia với giữ gìn hòa bình, ổn định và tuân thủ luật pháp quốc tế. Trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, việc kiên trì đấu tranh phản bác các quan điểm thù địch đối với chính sách phòng thủ biển, đảo của Đảng và Nhà nước ta phải được tiến hành chủ động, liên tục, gắn chặt giữa “xây” và “chống”, giữa bảo vệ nền tảng tư tưởng với củng cố niềm tin xã hội. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, sự đồng thuận của nhân dân và đường lối nhất quán của Đảng, Việt Nam đủ cơ sở và quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển nhanh và bền vững.

Nguyễn Hồng Liên

Tin liên quan