Thông tin chuyên đề
Đăng ngày: 10/03/2026 - Lượt xem: 15
 “NHỮNG ĐIỂM MỚI QUAN TRỌNG CỦA BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHOÁ XVI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2026 - 2031”

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 sẽ được tổ chức vào Chủ nhật, ngày 15/3/2026. Đây là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của đất nước, diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Cuộc bầu cử lần này có nhiều điểm mới quan trọng về thời gian, quy trình và phương thức tổ chức, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp sau sắp xếp tổ chức bộ máy và yêu cầu chuyển đổi số quốc gia. Dưới đây là tổng hợp các điểm mới nổi bật:

1. Thay đổi thời điểm bầu cử, rút ngắn thời gian trong các bước của quy trình bầu cử

Nghị quyết số 199/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 21/5/2025 đã quyết nghị rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026, đồng thời ấn định ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 là Chủ nhật, ngày 15/3/2026 tức là sớm hơn 02 tháng so với các nhiệm kỳ trước. Thông qua việc rút ngắn khoảng thời gian giữa Đại hội Đảng toàn quốc và kỳ họp thứ nhất của Quốc hội, Hội đồng nhân dân khóa mới, công tác kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước sẽ được tiến hành kịp thời, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất của Đảng, đồng thời tạo điều kiện sớm đưa các nghị quyết của Đại hội vào cuộc sống.

Cùng với đó, nhiều mốc thời gian trong quy trình bầu cử đã được điều chỉnh theo hướng tinh gọn nhưng vẫn bảo đảm chặt chẽ, đúng luật. Thời gian từ khi kết thúc nhận hồ sơ ứng cử đến ngày bầu cử được rút ngắn từ 70 ngày xuống còn 42 ngày. Thời gian tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai được tổ chức chậm nhất là 40 ngày trước ngày bầu cử (trước đây là 65 ngày). Thời gian tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba được tổ chức chậm nhất là 23 ngày trước ngày bầu cử (trước đây là 35 ngày). Thời hạn công bố danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu được Ủy ban bầu cử cấp tỉnh công bố, niêm yết chậm nhất là 16 ngày trước ngày bầu cử (trước đây là 20 ngày). Thời gian tiến hành bầu cử thêm, bầu cử lại chậm nhất là 07 ngày sau ngày bầu cử (trước đây là 15 ngày); thời hạn công bố kết quả bầu cử, danh sách trúng cử đại biểu Quốc hội là chậm nhất 10 ngày sau bầu cử (trước đây là 20 ngày), bằng thời hạn công bố kết quả bầu cử, danh sách trúng cử đại biểu HĐND các cấp; thời gian tiếp nhận khiếu nại về kết quả bầu cử chậm nhất là 03 ngày kể từ khi công bố kết quả bầu cử (trước đây là 05 ngày) và thời gian xem xét giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử chậm nhất là 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại đối với cả kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và kết quả bầu cử đại biểu HĐND (trước đây là 30 ngày đối với kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội và 20 ngày đối với kết quả bầu cử đại biểu HĐND).Việc rút ngắn thời gian đòi hỏi các cơ quan, tổ chức phụ trách bầu cử phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, chủ động trong công tác tham mưu, phối hợp và tổ chức thực hiện, bảo đảm tiến độ nhưng không làm ảnh hưởng đến chất lượng, tính dân chủ, công khai, minh bạch của cuộc bầu cử.

2. Điều chỉnh thẩm quyền xác định khu vực bỏ phiếu và tổ chức phụ trách bầu cử theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp

Cuộc bầu cử nhiệm kỳ 2026 – 2031 được tổ chức trong bối cảnh thực hiện chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn tổ chức bộ máy và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Theo quy định mới của Luật số 83/2025/QH15, Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền quyết định việc xác định khu vực bỏ phiếu trên địa bàn và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trường hợp cần thiết, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể xem xét, điều chỉnh nhằm bảo đảm phù hợp điều kiện thực tiễn, đặc điểm dân cư và yêu cầu quản lý nhà nước.

Quy định này thể hiện rõ tinh thần phân cấp, phân quyền, tăng cường trách nhiệm của chính quyền cơ sở, đồng thời vẫn bảo đảm sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát thống nhất của cấp tỉnh. Hệ thống tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương cũng được kiện toàn, bao gồm Ủy ban bầu cử cấp tỉnh; Ủy ban bầu cử cấp xã; các Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và các Tổ bầu cử tại từng khu vực bỏ phiếu. Để nâng cao hiệu quả công tác bầu cử, số lượng thành viên tại các tổ chức phụ trách bầu cử được điều chỉnh tăng thêm: Ủy ban bầu cử cấp tỉnh: 23-37 thành viên (trước đây là 21-31 thành viên); Ủy ban bầu cử cấp xã: 9-17 thành viên (trước là 9-11 thành viên); Ban bầu cử đại biểu Quốc hội: 9-17 thành viên (trước đây là 9-15 thành viên); Ban bầu cử HĐND cấp tỉnh là 11-15 thành viên (trước đây là 11-13 thành viên); Ban bầu cử HĐND cấp xã là 9-15 thành viên (trước đây là 7-9 thành viên). Thành phần tham gia các hội nghị hiệp thương được bổ sung đại diện Mặt trận Tổ quốc cấp xã trực thuộc, góp phần nâng cao tính đại diện, bảo đảm lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử thật sự tiêu biểu, đủ tiêu chuẩn theo quy định.

Những điều chỉnh này đặt ra yêu cầu cao về sự phối hợp nhịp nhàng giữa cấp ủy, chính quyền, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; đồng thời đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm công tác bầu cử ở cơ sở phải nắm vững quy định pháp luật, chủ động xử lý tình huống phát sinh, bảo đảm cuộc bầu cử diễn ra an toàn, đúng quy trình.

3. Đổi mới phương thức vận động bầu cử và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức bầu cử

Một điểm mới nổi bật của cuộc bầu cử lần này là quy định linh hoạt về hình thức tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri. Theo quy định của Luật số 83/2025/QH15, hội nghị có thể được tổ chức trực tiếp hoặc trực tuyến, hoặc kết hợp trực tiếp với trực tuyến, tùy điều kiện thực tế của từng địa phương. Quy định này phù hợp với xu thế chuyển đổi số, đồng thời tạo điều kiện mở rộng phạm vi tiếp cận thông tin của cử tri, nhất là ở những địa bàn rộng, đông dân cư hoặc có điều kiện hạ tầng công nghệ thông tin phát triển.

Việc tổ chức tiếp xúc cử tri theo hình thức trực tuyến hoặc kết hợp chỉ được thực hiện khi bảo đảm đầy đủ các điều kiện về kỹ thuật, an toàn thông tin và an ninh mạng. Đây là yêu cầu bắt buộc nhằm phòng ngừa nguy cơ lộ lọt thông tin, xuyên tạc, tác động tiêu cực đến quá trình vận động bầu cử.

Bên cạnh đó, ứng dụng công nghệ thông tin được tăng cường mạnh mẽ trong nhiều khâu của quá trình bầu cử như lập và quản lý danh sách cử tri, theo dõi tiến độ thực hiện, tổng hợp và báo cáo kết quả bầu cử. Việc khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và ứng dụng định danh điện tử quốc gia (VNeID) trong lập danh sách cử tri góp phần nâng cao độ chính xác, hạn chế trùng lặp, sai sót, tiết kiệm thời gian và nhân lực. Tuy nhiên, đi đôi với ứng dụng công nghệ là yêu cầu bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng trong toàn bộ quá trình tổ chức bầu cử.

Song song với công tác chuẩn bị về tổ chức, kỹ thuật, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bầu cử được triển khai sớm, đồng bộ và đa dạng về hình thức. Nội dung tuyên truyền tập trung làm rõ quyền và nghĩa vụ của công dân trong bầu cử, tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, ý nghĩa chính trị – pháp lý của cuộc bầu cử. Qua đó góp phần nâng cao nhận thức, tạo sự thống nhất trong xã hội, khơi dậy tinh thần trách nhiệm của mỗi cử tri trong việc lựa chọn những người thực sự tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực và uy tín, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.

4. Tăng tính linh hoạt xử lý tình huống phát sinh trong quá trình tổ chức bầu cử

Bên cạnh các nội dung đổi mới về quy trình, tổ chức và ứng dụng công nghệ, pháp luật về bầu cử hiện hành còn bổ sung cơ chế nhằm nâng cao tính chủ động, linh hoạt trong điều hành, xử lý các tình huống phát sinh trên thực tế. Theo quy định của Hội đồng bầu cử quốc gia, cơ quan này có thẩm quyền xem xét, quyết định việc điều chỉnh thời gian thực hiện một số công việc trong quy trình bầu cử, đồng thời ban hành hướng dẫn kịp thời đối với các tổ chức phụ trách bầu cử ở trung ương và địa phương khi xuất hiện các tình huống khách quan hoặc yếu tố đột xuất.

Quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh cuộc bầu cử được tổ chức theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp và triển khai đồng thời trên phạm vi cả nước. Trong thực tiễn, có thể phát sinh những tình huống như thay đổi địa giới hành chính, biến động dân cư, sự cố kỹ thuật liên quan đến hạ tầng công nghệ thông tin, hoặc các yếu tố khách quan khác ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các bước của quy trình bầu cử. Việc trao thẩm quyền chủ động cho Hội đồng bầu cử quốc gia giúp bảo đảm sự chỉ đạo tập trung, thống nhất, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để xử lý kịp thời, đúng thẩm quyền, hạn chế tối đa tác động tiêu cực đến quyền lợi của cử tri và người ứng cử.

Cơ chế linh hoạt này không làm thay đổi nguyên tắc cơ bản của công tác bầu cử là dân chủ, công khai, minh bạch và đúng pháp luật; ngược lại, còn góp phần bảo đảm cuộc bầu cử diễn ra thông suốt, không bị gián đoạn, giữ vững tiến độ chung trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời, đây cũng là bước hoàn thiện quan trọng trong hệ thống pháp luật về bầu cử, thể hiện sự chủ động của Nhà nước trong việc dự liệu các tình huống phát sinh và nâng cao năng lực quản trị, điều hành các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước.

Những điểm mới nêu trên cho thấy hệ thống pháp luật về bầu cử ngày càng được hoàn thiện, bám sát thực tiễn, kịp thời thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng về sắp xếp tổ chức bộ máy và chuyển đổi số quốc gia. Việc tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân mà còn góp phần củng cố niềm tin của cử tri đối với Đảng và Nhà nước, tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Phòng Kỹ thuật nghiệp vụ và ngoại tuyến

Tin liên quan