Hoàn thiện quy định về thời hiệu xử phạt từ yêu cầu thực tiễn
Theo Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi, bổ sung gần nhất bởi Luật số 88/2025/QH15, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính thông thường là 01 năm; đối với một số lĩnh vực như bảo vệ môi trường, khoáng sản, xây dựng, đất đai, sản xuất, kinh doanh hàng hóa và một số lĩnh vực khác, thời hiệu là 02 năm. Riêng trường hợp hồ sơ do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến, thời hiệu xử phạt được kéo dài thêm 01 năm so với thời hiệu áp dụng cho lĩnh vực tương ứng.
Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong phát hiện và xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy nhiều hành vi vi phạm ngày càng tinh vi, diễn ra trong thời gian dài, liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân hoặc có yếu tố kỹ thuật phức tạp, đòi hỏi cơ quan chức năng phải tiến hành xác minh, kiểm định, giám định, thu thập và đánh giá nhiều loại tài liệu, chứng cứ trước khi có đủ căn cứ xử phạt.
Đặc biệt, đối với các lĩnh vực an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, bảo vệ môi trường và khoáng sản, hậu quả của hành vi vi phạm không phải lúc nào cũng được phát hiện ngay tại thời điểm xảy ra. Có trường hợp phải thông qua quá trình lấy mẫu, kiểm nghiệm chất lượng, phân tích thành phần, đánh giá mức độ ô nhiễm hoặc xác định khối lượng tài nguyên bị khai thác trái phép mới có đủ căn cứ xác định hành vi vi phạm.
Nếu thời hiệu xử phạt không phù hợp với đặc thù của các lĩnh vực này, có thể phát sinh tình trạng cơ quan có thẩm quyền phát hiện hành vi vi phạm nhưng không còn đủ thời gian thực hiện các hoạt động xác minh cần thiết để ra quyết định xử phạt. Điều đó ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý nhà nước, làm giảm tính răn đe của pháp luật và có nguy cơ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức.
Nâng thời hiệu có chọn lọc, không áp dụng đại trà
Từ yêu cầu thực tiễn, dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính (sửa đổi) đề xuất nâng mức thời hiệu xử phạt tối đa thông thường từ 02 năm lên 03 năm, đồng thời phân hóa thời hiệu 01 năm, 02 năm hoặc 03 năm tùy theo lĩnh vực.
Đây không phải là việc kéo dài thời hiệu xử phạt đối với mọi hành vi vi phạm hành chính mà nhằm tập trung vào những lĩnh vực có tính chất phức tạp, nguy cơ tác động lớn đến sức khỏe, sự an toàn của người dân, môi trường và trật tự xã hội, cần nhiều thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ và xác định trách nhiệm pháp lý.
Đáng chú ý, việc điều chỉnh thời hiệu xử phạt đã từng được Quốc hội xem xét trong quá trình xây dựng Luật số 88/2025/QH15. Tại dự thảo trình Quốc hội năm 2025, phương án quy định thời hiệu 03 năm đối với hồ sơ do cơ quan tiến hành tố tụng chuyển đến đã được đề xuất. Tuy nhiên, sau khi tiếp thu, giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội, quy định được chỉnh lý theo hướng chỉ kéo dài thêm 01 năm so với thời hiệu tương ứng của từng lĩnh vực, thay vì áp dụng chung thời hiệu 03 năm.
Kế thừa kinh nghiệm lập pháp này, dự thảo Luật năm 2026 tiếp tục nghiên cứu nâng thời hiệu xử phạt nhưng theo hướng phân hóa cụ thể hơn, gắn với đặc điểm, tính chất của từng lĩnh vực. Việc điều chỉnh có chọn lọc vừa đáp ứng yêu cầu xử lý nghiêm vi phạm, vừa bảo đảm không tạo ra áp lực pháp lý kéo dài không cần thiết đối với người dân, doanh nghiệp.
Bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, nâng cao hiệu quả phòng ngừa vi phạm
Việc đề xuất nâng thời hiệu xử phạt đối với một số lĩnh vực còn góp phần thực hiện nguyên tắc mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Đối với những hành vi vi phạm có tính chất phức tạp, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, môi trường sống và tài nguyên quốc gia, việc có đủ thời gian xác minh, làm rõ vi phạm không chỉ giúp cơ quan chức năng xử lý đúng người, đúng hành vi mà còn bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng.
Mặt khác, nâng thời hiệu xử phạt còn có ý nghĩa phòng ngừa, hạn chế tình trạng lợi dụng những khó khăn trong công tác kiểm tra, xác minh hoặc sự kéo dài của quá trình giám định để né tránh trách nhiệm pháp lý. Khi hành vi vi phạm có thể bị xem xét, xử lý trong một khoảng thời gian phù hợp với đặc thù của lĩnh vực quản lý, ý thức tự giác tuân thủ pháp luật của tổ chức, cá nhân cũng được củng cố.
Đề xuất này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, trong đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng pháp luật xuất phát từ thực tiễn, nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp.
Tuy nhiên, việc kéo dài thời hiệu xử phạt không đồng nghĩa với cho phép cơ quan có thẩm quyền chậm trễ trong phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm. Thời hiệu xử phạt cần được phân biệt với thời hạn tiến hành các thủ tục xử phạt. Việc áp dụng thời hiệu dài hơn phải đi đôi với yêu cầu nâng cao trách nhiệm công vụ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, tăng cường phối hợp liên ngành và thực hiện nghiêm các quy định về trình tự, thủ tục xử phạt.
Đồng thời, cần đánh giá đầy đủ tác động của chính sách đối với người dân và doanh nghiệp, bảo đảm nguyên tắc tương xứng, công khai, minh bạch, không làm phát sinh gánh nặng pháp lý không cần thiết. Đây cũng là những vấn đề được các đại biểu Quốc hội quan tâm trong quá trình thảo luận dự án Luật tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện chính sách bảo đảm phù hợp với từng lĩnh vực
Có thể khẳng định, đề xuất nâng thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính lên tối đa 03 năm đối với một số lĩnh vực là hướng điều chỉnh có cơ sở pháp lý và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong tình hình mới.
Tuy nhiên, để chính sách thực sự phát huy hiệu quả, cơ quan chủ trì soạn thảo cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, cơ quan có liên quan rà soát, đánh giá kỹ lưỡng tính chất, mức độ phức tạp của hành vi vi phạm, thời gian cần thiết để phát hiện, xác minh, giám định và những tác động đối với quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; từ đó xác định thời hiệu xử phạt phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực.
Việc nâng thời hiệu xử phạt không nhằm mở rộng xử phạt một cách cơ học, mà hướng tới bảo đảm các hành vi vi phạm được xem xét, xử lý trên cơ sở đầy đủ chứng cứ, đúng pháp luật, hạn chế bỏ lọt vi phạm, nâng cao tính răn đe và hiệu quả phòng ngừa. Qua đó, góp phần củng cố kỷ cương, nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật, bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân, tạo môi trường xã hội an toàn, lành mạnh, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.