Mỗi dịp Đảng ta tổ chức Đại hội, ban hành các chủ trương, quyết sách quan trọng hoặc khi đất nước đạt được những thành tựu nổi bật trên các lĩnh vực, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại gia tăng hoạt động chống phá với cường độ cao hơn. Trong đó, luận điệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” được tung ra dồn dập trên không gian mạng. Những quan điểm này được ngụy trang bằng các khái niệm nghe có vẻ tiến bộ như “tự do”, “văn minh”, “khai phóng”, nhưng thực chất nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gây hoang mang trong xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, từng bước thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc nhận diện rõ bản chất, âm mưu và kiên quyết đấu tranh, phản bác là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn xác định chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam là trọng tâm, xuyên suốt. Chúng ra sức cổ súy cho mô hình “đa đảng đối lập”, xuyên tạc rằng chỉ có đa đảng mới có dân chủ, mới phát triển, mới chống tham nhũng hiệu quả, từ đó kêu gọi “tách Đảng”, “lập đảng mới”, “đa nguyên hóa đời sống chính trị”. Tuy nhiên, mục tiêu thực sự không phải vì lợi ích của nhân dân Việt Nam mà nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, gây rối loạn chính trị – xã hội, kích động mâu thuẫn, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo tiền đề cho can thiệp từ bên ngoài, làm suy yếu độc lập, chủ quyền quốc gia. Đây là thủ đoạn chính trị tinh vi, nguy hiểm, cần được nhận diện đầy đủ và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch luôn xác định chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam là trọng tâm, xuyên suốt.
Các đối tượng chống phá cố tình đánh tráo khái niệm, đồng nhất “đa đảng” với “dân chủ”, “tự do”, trong khi né tránh hoặc che giấu những hệ lụy nghiêm trọng mà mô hình đa đảng đã và đang gây ra ở nhiều quốc gia. Họ bỏ qua hoàn toàn đặc thù lịch sử, văn hóa, điều kiện phát triển của Việt Nam – một quốc gia đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, thấm sâu truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng – để áp đặt máy móc mô hình chính trị phương Tây, coi đó là “chuẩn mực” duy nhất. Cách tiếp cận này không những phi thực tiễn mà còn tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn, chia rẽ và xung đột xã hội.
.JPG)
Các đối tượng chống phá cố tình đánh tráo khái niệm, đồng nhất “đa đảng” với “dân chủ”, “tự do”.
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 03/02/1930 là tất yếu khách quan, đáp ứng yêu cầu bức thiết của dân tộc trong bối cảnh đất nước chìm trong đêm dài nô lệ. Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập đã chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, mở ra con đường đúng đắn cho dân tộc: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ đó đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam đã làm nên những kỳ tích lịch sử: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, giành chính quyền về tay nhân dân; chiến thắng thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ xâm lược; thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, đói nghèo, từng bước hội nhập sâu rộng và phát triển bền vững. Thực tiễn đó khẳng định: chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đủ bản lĩnh, trí tuệ, uy tín và năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Trên thực tế, Việt Nam cũng đã từng có những thời điểm có nhiều Đảng phái chính trị cùng tồn tại như: năm 1945 – 1946, do bối cảnh tình hình chính trị diễn biến phức tạp, ở Việt Nam ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn tồn tại một số đảng phái đối lập như Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam cách mạng đồng minh hội…; giai đoạn 1945 – 1975 bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế lịch sử đã chứng minh, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất đủ tầm vóc, đủ bản lĩnh và uy tín để lãnh đạo dân tộc vượt qua những thời khắc sinh tử, giữ vững độc lập và xây dựng đất nước. Điều này không phải do áp đặt mà được khẳng định bằng sự lựa chọn của lịch sử và niềm tin của nhân dân.
Nhìn ra thế giới, nhiều quốc gia áp dụng mô hình đa đảng nhưng không đạt được sự ổn định và phát triển như kỳ vọng. Myanmar – đất nước cùng khu vực Đông Nam Á với Việt Nam là ví dụ điển hình với nội chiến kéo dài, đảo chính, xung đột sắc tộc triền miên, kinh tế suy sụp, đời sống nhân dân điêu đứng. Trong khi các đảng phái chính trị tranh giành quyền lực, chính người dân là nạn nhân lớn nhất, phải gánh chịu mất mát, đau thương. Thực tế ở nhiều quốc gia khác cũng cho thấy, đa đảng không tự động mang lại dân chủ, minh bạch hay phát triển, mà thậm chí còn kéo theo bất ổn chính trị, tham nhũng, lợi ích nhóm, phân hóa xã hội sâu sắc. Điều đó khẳng định, đa đảng không phải là “liều thuốc vạn năng” cho mọi quốc gia, càng không phải là mô hình phù hợp với Việt Nam trong điều kiện hiện nay.
Việt Nam là quốc gia có truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái, “bầu ơi thương lấy bí cùng”. Sự lãnh đạo thống nhất của Đảng là yếu tố quan trọng giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp để vượt qua khó khăn, thách thức. Chính sự ổn định chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tạo điều kiện để kinh tế tăng trưởng liên tục nhiều năm, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, coi trọng tự phê bình và phê bình, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, từng bước nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Điều này thể hiện rõ bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm của Đảng trước nhân dân và đất nước, đồng thời bác bỏ luận điệu cho rằng “một đảng thì không thể tự sửa mình”.
Có thể khẳng định, luận điệu đòi “đa nguyên, đa đảng” ở Việt Nam là sản phẩm của âm mưu chính trị thù địch, không xuất phát từ lợi ích của nhân dân và dân tộc. Thực tiễn lịch sử Việt Nam và bài học quốc tế đã chứng minh, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là tất yếu khách quan, là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử và của nhân dân. Ổn định chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là tiền đề quan trọng để đất nước phát triển nhanh, bền vững; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ chính là bảo vệ độc lập dân tộc, bảo vệ tương lai đất nước.
Trong bối cảnh hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nâng cao cảnh giác, tỉnh táo trước các luận điệu xuyên tạc, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; đồng thời củng cố niềm tin, chung sức, đồng lòng xây dựng đất nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc, vững bước trên con đường “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Chu Văn Nam - Công an xã Tây Thụy Anh