Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, được ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Những nội dung liên quan đến tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng trở thành cái cớ cho các thế lực thù địch công kích, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Chúng ta cần nhận diện và có những đấu tranh phản bác lại các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch.
Đến hẹn lại lên, từ đầu năm 2025 đến nay, nhiều tổ chức mang mác “vì tự do nhân quyền và bình đẳng dân chủ” liên tục đưa ra các bản báo cáo xuyên tạc về vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam. Cuối tháng 3 vừa qua, trong bản phúc trình năm 2025, tổ chức Ủy ban Tự do Tôn giáo Hoa Kỳ (USCIRF) kêu gọi đưa Việt Nam vào danh sách quốc gia đặc biệt quan ngại về đàn áp tôn giáo; ngày 9/12/2025 tổ chức này tiếp tục có bản báo cáo cập nhật đưa ra những đánh giá tiêu cực về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam, kèm theo khuyến nghị quen thuộc là đưa Việt Nam vào danh sách “Quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) và áp dụng các biện pháp gây sức ép. Từ năm 2000 đến nay, đã nhiều lần tổ chức này đề nghị tương tự nhưng không đạt được mục đích bởi các đánh giá sai lệch, thiếu chứng cứ xác đáng. Thực tế cho thấy, đằng sau những nhận định mang danh “nhân quyền” ấy là cả một hệ thống thủ đoạn đã và đang được triển khai trong nhiều năm, với mục tiêu cuối cùng không phải là tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà là gây mất ổn định xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và làm tổn hại hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.
Tại Việt Nam, tôn trọng và bảo đảm nhân quyền, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong đường lối chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Ngay trong phần mở đầu của bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một chân lý vĩnh cửu: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đây không chỉ là tư tưởng lớn về độc lập, tự do của dân tộc, mà còn là tư tưởng cơ bản về quyền con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta và trong tất cả những quyền cơ bản của con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Quan điểm đường lối của Đảng qua các kỳ Đại hội trong suốt chiều dài lịch sử được thể chế hóa trong pháp luật Việt Nam, trong tất cả 05 bản Hiến pháp của nước ta, đều khẳng định quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là quyền hiến định. Thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong Hiến pháp, các văn bản luật, dưới luật đều ghi nhận và tạo cơ sở pháp lý để thúc đẩy tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, trong đó đặc biệt là quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội khóa XIV Kỳ họp thứ hai thông qua ngày 18/11/2016 là dấu mốc quan trọng trong lộ trình cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, đồng thời tiếp tục sự tương thích với luật pháp quốc tế trong điều kiện Việt Nam mở cửa và hội nhập quốc tế một cách sâu rộng mọi quan điểm.
Nếu như năm 2003 cả nước có 06 tôn giáo, 15 tổ chức với 17 triệu tín đồ, khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 74.000 chức tiệc thì đến nay Việt Nam có hơn 27 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước; hơn 54.000 chức sắc, hơn 144.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Hằng năm có trên 8000 lễ hội về tín ngưỡng tôn giáo với hàng vạn tín đồ tham gia. Việt Nam cũng thường xuyên tổ chức nhiều ngày lễ lớn, quan trọng của các tôn giáo khác nhau như năm 2017, Giáo hội Tin lành tổ chức thành công Lễ kỷ niệm 500 năm cải chánh đạo Tin lành; năm 2019, Giáo hội Công giáo tổ chức hội nghị Tổng dòng đa minh thế giới tại Đồng Nai với đại biểu của 80 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia. Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức thành công 04 đại lễ Vesak liên hợp quốc vào các năm 2008, 2014, 2019 và 2025. Riêng năm 2025, đại lễ Vesak được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh với trên 2.700 đại biểu trong nước và quốc tế, trong đó có nhiều Nguyên thủ lãnh đạo các quốc gia, đại diện liên hợp quốc, hơn 1.350 đại biểu quốc tế đến từ 85 quốc gia và vùng lãnh thổ cùng hàng vạn tăng ni, phật tử và những người có tín ngưỡng Phật giáo khắp nơi trên thế giới. Với quy mô của các đại lễ lớn như vậy, toàn bộ hệ thống chính trị của Việt Nam đều hỗ trợ, tạo điều kiện tốt nhất để sự kiện diễn ra tốt đẹp, an toàn.
.jpg)
Đại lễ Vesak Liên Hợp quốc năm 2025 tổ chức thành công tại TP. Hồ Chí Minh
Tại Hội nghị tổng kết công tác dân tộc, tôn giáo năm 2025, triển khai nhiệm vụ năm 2026 do Bộ Dân tộc và Tôn giáo tổ chức tháng 01/2026 ghi nhận: Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo trong năm 2025 cơ bản ổn định. Hoạt động của các tổ chức tôn giáo diễn ra đúng quy định của pháp luật; các chức sắc, chức việc, tín đồ tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động từ thiện xã hội, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Điều này cho thấy, Việt Nam là một xã hội đa tôn giáo và đa sắc tộc; do đó, việc quản lý hoạt động tôn giáo đòi hỏi sự cân bằng giữa quyền tự do tín ngưỡng của cá nhân với lợi ích chung của cộng đồng và trật tự xã hội. Điều này không thể đánh đồng với việc “tước đoạt” hay “đàn áp”, mà cần được hiểu trong khuôn khổ pháp lý nội địa, đặc thù văn hóa và sự phát triển bền vững của đất nước. Việc một số tôn giáo hoặc nhóm tôn giáo chưa được công nhận theo thủ tục pháp lý không có nghĩa là Nhà nước hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, mà là thực tế của pháp chế: Mọi tổ chức phải tuân thủ pháp luật để được công nhận và hoạt động hợp pháp, đây là nguyên tắc chung ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Nói cách khác, tự do tôn giáo ở Việt Nam là tự do trong khuôn khổ pháp luật, gắn liền với trách nhiệm công dân và lợi ích chung của cộng đồng. Đó mới là nền tự do chân chính, lành mạnh, chứ không phải thứ “tự do vô giới hạn” để bất kỳ ai cũng có thể lợi dụng tôn giáo cho mục đích cá nhân, chống phá, hay gieo rắc những mầm mống nguy hại cho xã hội./.
Phòng An ninh nội địa