Thời gian qua, tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao trên không gian mạng diễn biến phức tạp. Đặc biệt, các đối tượng xấu đang triệt để lợi dụng sự phát triển của công nghệ Trí tuệ nhân tạo (AI), điển hình là công nghệ Deepfake (giả mạo hình ảnh, giọng nói), để thực hiện các hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, phát tán tin giả, chống phá Đảng và Nhà nước với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt.
Nhằm thiết lập hành lang pháp lý vững chắc, bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội (TTATXH), Quốc hội đã chính thức ban hành Luật Trí tuệ nhân tạo (Luật số 134/2025/QH15), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2026. Luật điều chỉnh toàn bộ vòng đời trí tuệ nhân tạo (AI), từ thiết kế, huấn luyện, kiểm thử đến cung cấp ra thị trường và ứng dụng trong hoạt động nghề nghiệp, thương mại, dịch vụ. AI phải lấy con người làm trung tâm, bảo đảm quyền con người, quyền riêng tư, an ninh quốc gia và tuân thủ pháp luật. Luật nhấn mạnh, AI không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của con người. Người vận hành phải duy trì quyền kiểm soát, khả năng can thiệp vào mọi quyết định do AI tạo ra, bảo đảm an toàn hệ thống và an ninh dữ liệu. Đồng thời, nghiêm cấm lợi dụng AI để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp, lừa dối, thao túng nhận thức hoặc gây tổn hại nghiêm trọng cho xã hội.
Để chủ động phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm mới, đồng thời nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân, Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Công an tỉnh Hưng Yên khuyến cáo và đề nghị các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân nắm vững các nội dung trọng tâm sau:
1. Nhận diện các hành vi bị nghiêm cấm tại Điều 7 Luật Trí tuệ nhân tạo
“Điều 7. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
2. Phát triển, cung cấp, triển khai hoặc sử dụng các hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mục đích sau đây:
a) Thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của luật;
b) Sử dụng yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối hoặc thao túng nhận thức, hành vi của con người một cách có chủ đích và có hệ thống, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của con người;
c) Lợi dụng điểm yếu của nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số hoặc người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi để gây tổn hại cho chính họ hoặc người khác;
d) Tạo ra hoặc phổ biến nội dung giả mạo có khả năng gây nguy hại nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
3. Thu thập, xử lý hoặc sử dụng dữ liệu để phát triển, huấn luyện, kiểm thử hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo trái với quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng.
4. Cản trở, vô hiệu hóa hoặc làm sai lệch cơ chế giám sát, can thiệp và kiểm soát của con người đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo theo quy định của Luật này.
5. Che giấu thông tin bắt buộc phải công khai, minh bạch hoặc giải trình; tẩy xóa, làm sai lệch các thông tin, nhãn, cảnh báo bắt buộc trong hoạt động trí tuệ nhân tạo.
6. Lợi dụng hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, đánh giá hoặc kiểm định hệ thống trí tuệ nhân tạo để thực hiện hành vi trái quy định của luật.”
Pháp luật xử lý nghiêm minh mọi hành vi lợi dụng không gian mạng và AI để xâm phạm an ninh trật tự. Căn cứ Điều 7 Luật số 134/2025/QH15, các hành vi sau đây bị nghiêm cấm:
- Cấm lợi dụng, chiếm đoạt hệ thống AI để vi phạm pháp luật: Xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Khoản 1 Điều 7).
- Nghiêm cấm sử dụng Deepfake để lừa đảo: Phát triển, sử dụng hệ thống AI tạo ra "yếu tố giả mạo hoặc mô phỏng người, sự kiện thật để lừa dối" (Điểm b Khoản 2 Điều 7). Đây là cơ sở pháp lý trọng tâm để lực lượng Công an triệt phá các đường dây lừa đảo gọi video giả mạo người thân hiện nay…
- Nghiêm cấm đánh cắp, sử dụng dữ liệu trái phép: Thu thập, xử lý, sử dụng dữ liệu để huấn luyện AI trái với quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, sở hữu trí tuệ và an ninh mạng (Khoản 3 Điều 7).
- Nghiêm cấm che giấu, làm sai lệch thông tin: Hành vi che giấu thông tin bắt buộc phải công khai; tẩy xóa, làm sai lệch các nhãn, cảnh báo bắt buộc đối với hệ thống và sản phẩm AI (Khoản 5 Điều 7).
- Cấm lợi dụng hoạt động thử nghiệm AI: Dùng danh nghĩa nghiên cứu, đánh giá, kiểm định hệ thống AI để thực hiện các hành vi trái pháp luật (Khoản 6 Điều 7).
2. Nêu cao trách nhiệm và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong sử dụng AI
Mọi công dân, tổ chức khi tham gia hoạt động, ứng dụng AI phải tuyệt đối tuân thủ các quy định quản lý rủi ro của Nhà nước, cụ thể:
- Chấp hành nghiêm Nghĩa vụ Minh bạch (Điều 11): Mọi tổ chức, cá nhân khi cung cấp ra không gian mạng các nội dung do AI tạo ra (âm thanh, hình ảnh, video) bắt buộc phải thông báo rõ ràng và gắn nhãn phân biệt để người dân không bị nhầm lẫn với sự thật, góp phần ngăn chặn nạn tin giả. Cụ thể:
“Điều 11. Trách nhiệm minh bạch
1. Nhà cung cấp bảo đảm hệ thống trí tuệ nhân tạo tương tác trực tiếp với con người được thiết kế và vận hành để người sử dụng nhận biết khi đang tương tác với hệ thống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Nhà cung cấp bảo đảm các nội dung âm thanh, hình ảnh, video do hệ thống trí tuệ nhân tạo tạo ra được đánh dấu ở định dạng máy đọc theo quy định của Chính phủ.
3. Bên triển khai có trách nhiệm thông báo rõ ràng khi cung cấp ra công cộng văn bản, âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo nếu nội dung đó có khả năng gây nhầm lẫn về tính xác thực của sự kiện, nhân vật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Bên triển khai có trách nhiệm bảo đảm âm thanh, hình ảnh, video được tạo ra hoặc chỉnh sửa bằng hệ thống trí tuệ nhân tạo nhằm mô phỏng, giả lập ngoại hình, giọng nói của người thật hoặc tái hiện sự kiện thực tế phải được gắn nhãn dễ nhận biết để phân biệt với nội dung thật.
Đối với sản phẩm là tác phẩm điện ảnh, nghệ thuật hoặc sáng tạo, việc gắn nhãn quy định tại khoản này được thực hiện theo phương thức phù hợp, bảo đảm không làm cản trở việc hiển thị, trình diễn hoặc thưởng thức tác phẩm.
5. Nhà cung cấp và bên triển khai có trách nhiệm duy trì thông tin minh bạch theo quy định tại Điều này trong suốt quá trình cung cấp hệ thống, sản phẩm hoặc nội dung cho người sử dụng.
6. Chính phủ quy định chi tiết hình thức thông báo, gắn nhãn.”
- Trách nhiệm Báo cáo sự cố khẩn cấp (Điều 12): Khi phát hiện hệ thống AI có nguy cơ hoặc xảy ra sự cố đe dọa đến tính mạng, tài sản, dữ liệu hoặc trật tự xã hội, các đơn vị liên quan phải lập tức khắc phục và báo cáo ngay qua Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo để cơ quan chức năng kịp thời xử lý. Cụ thể:
“Điều 12. Trách nhiệm quản lý và xử lý sự cố trí tuệ nhân tạo
1. Nhà phát triển, nhà cung cấp, bên triển khai và người sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm bảo đảm an toàn, an ninh, độ tin cậy và kịp thời phát hiện, khắc phục sự cố có khả năng gây tổn hại đến con người, tài sản, dữ liệu hoặc trật tự xã hội.
2. Khi hệ thống trí tuệ nhân tạo xảy ra sự cố nghiêm trọng, nhà phát triển, nhà cung cấp, bên triển khai, người sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm sau đây:
a) Nhà phát triển, nhà cung cấp phải khẩn trương áp dụng biện pháp kỹ thuật để khắc phục, tạm dừng hoặc thu hồi hệ thống, đồng thời thông báo cho cơ quan có thẩm quyền;
b) Bên triển khai và người sử dụng có nghĩa vụ ghi nhận, thông báo kịp thời sự cố và phối hợp trong quá trình khắc phục.
3. Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận, xác minh và hướng dẫn xử lý sự cố; khi cần thiết, có quyền yêu cầu tạm dừng, thu hồi hoặc đánh giá lại hệ thống trí tuệ nhân tạo.
4. Báo cáo và xử lý sự cố được thực hiện qua cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo.
5. Chính phủ quy định việc báo cáo và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phù hợp với mức độ nghiêm trọng của sự cố và phạm vi ảnh hưởng của hệ thống trí tuệ nhân tạo.”
- Tuân thủ chặt chẽ đối với AI rủi ro cao (Điều 14): Người sử dụng hệ thống AI thuộc nhóm rủi ro cao phải chấp hành đúng quy trình vận hành; tuyệt đối không được có hành vi can thiệp trái phép làm thay đổi tính năng của hệ thống. Cụ thể:
“Điều 14. Quản lý hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao
1. Nhà cung cấp hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao có trách nhiệm sau đây:
a) Thiết lập và duy trì biện pháp quản lý rủi ro và thường xuyên rà soát khi hệ thống có thay đổi đáng kể hoặc phát sinh rủi ro mới;
b) Quản trị dữ liệu huấn luyện, kiểm thử và vận hành bảo đảm chất lượng trong phạm vi khả năng kỹ thuật và phù hợp với mục đích sử dụng của hệ thống;
c) Lập, cập nhật, lưu giữ hồ sơ kỹ thuật và nhật ký hoạt động ở mức cần thiết cho việc đánh giá sự phù hợp và kiểm tra sau khi đưa vào sử dụng; cung cấp các thông tin này cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo nguyên tắc cần thiết, tương xứng với mục đích kiểm tra và không làm lộ bí mật kinh doanh;
d) Thiết kế hệ thống bảo đảm khả năng giám sát và can thiệp của con người đối với hệ thống;
đ) Thực hiện nghĩa vụ minh bạch và xử lý sự cố theo quy định tại Điều 11 và Điều 12 của Luật này;
e) Thực hiện trách nhiệm giải trình đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về mục đích sử dụng, nguyên lý hoạt động ở mức mô tả chức năng, loại dữ liệu đầu vào chủ yếu, biện pháp quản lý và kiểm soát rủi ro cùng các nội dung cần thiết phục vụ thanh tra, kiểm tra; cung cấp cho người sử dụng và người bị ảnh hưởng các thông tin công khai ở mức mô tả chức năng, cách thức vận hành và cảnh báo rủi ro để bảo đảm an toàn trong sử dụng. Việc giải trình và cung cấp thông tin không được yêu cầu tiết lộ mã nguồn, thuật toán chi tiết, bộ tham số hoặc thông tin thuộc bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ;
g) Phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và bên triển khai trong kiểm tra, đánh giá, hậu kiểm và khắc phục sự cố liên quan đến hệ thống.
2. Bên triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao có trách nhiệm sau đây:
a) Vận hành và giám sát hệ thống đúng mục đích, phạm vi và mức độ rủi ro đã được phân loại, không làm phát sinh rủi ro mới hoặc rủi ro cao hơn;
b) Bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu và khả năng can thiệp của con người trong quá trình sử dụng;
c) Duy trì việc tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về trí tuệ nhân tạo trong quá trình vận hành hệ thống;
d) Thực hiện nghĩa vụ minh bạch và xử lý sự cố theo quy định tại Điều 11 và Điều 12 của Luật này;
đ) Thực hiện trách nhiệm giải trình đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc vận hành hệ thống, biện pháp kiểm soát rủi ro, xử lý sự cố và các nội dung cần thiết phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra; cung cấp cho người sử dụng và người bị ảnh hưởng các thông tin công khai ở mức mô tả chức năng, cách thức vận hành và cảnh báo rủi ro nhằm bảo đảm an toàn trong sử dụng;
e) Phối hợp với nhà cung cấp và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong kiểm tra, đánh giá, hậu kiểm và khắc phục sự cố.
3. Người sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao có trách nhiệm tuân thủ quy trình vận hành, hướng dẫn kỹ thuật và các biện pháp bảo đảm an toàn; không can thiệp trái phép làm thay đổi tính năng của hệ thống; thông báo kịp thời các sự cố phát sinh cho bên triền khai.
4. Việc giải trình phải phù hợp với khả năng kỹ thuật của hệ thống, không làm lộ bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật.
5. Khuyến khích nhà cung cấp, bên triển khai tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phù hợp khác để kịp thời khắc phục sự cố và bồi thường thiệt hại.
6. Nhà cung cấp nước ngoài có hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao được cung cấp tại Việt Nam phải có đầu mối liên hệ hợp pháp tại Việt Nam; trường hợp hệ thống thuộc diện bắt buộc chứng nhận sự phù hợp trước khi đưa vào sử dụng, phải có hiện diện thương mại hoặc đại diện được ủy quyền tại Việt Nam.
7. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.”
3. Kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật
Với tinh thần thượng tôn pháp luật, mọi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm Luật Trí tuệ nhân tạo sẽ phải chịu các chế tài xử lý nghiêm khắc nhất từ cơ quan bảo vệ pháp luật:
- Xử phạt vi phạm hành chính: Cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về hoạt động trí tuệ nhân tạo có thể bị phạt tiền với mức tối đa lên đến 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Đối với tổ chức, doanh nghiệp vi phạm, mức phạt tiền tối đa có thể lên tới 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng), kèm theo các biện pháp như tước quyền sử dụng giấy phép, đình chỉ hoạt động…
- Hành vi sử dụng AI/Deepfake phát ngôn, tán phát tin giả, tin sai sự thật trên không gian mạng có thể bị xử phạt lên đến 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
- Truy cứu trách nhiệm hình sự: Điều tra, khởi tố vụ án, khởi tố bị can với các hành vi vi phạm hình sự trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.
Vũ Anh Tuấn – Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao